CỤ TỔ PHẠM PHÚC KHÁNH

Phạm tộc làng Nhuộng

Gia phả Phạm tộc

Phần lịch sử dòng họ, bài thơ “Tha Hương” và từ đường hương hoả được chép theo bản gia phả giấy. Các tư liệu sưu tầm bên ngoài được xếp riêng để tham khảo và đối chiếu.

Mục 1 · Trang 1–2

Lịch sử và nguồn gốc dòng họ

Làng Nhuộng trước đây thuộc tổng Tử Mạc (gồm 2 thôn: Nhuộng (thôn thượng) và Mực (thôn hạ). Tổng Tử Mạc nay là xã Yên Trung, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Nước có Quốc sử, dòng họ có gia phả. “Uống nước nhớ nguồn”, con người phải có nguồn, có cội. Có lòng tự hào. Tự hào dân tộc. Tự hào dòng họ. Gia phả họ ta có nhưng bị hoả hoạn năm 1930 tại nhà ông Trưởng họ Phạm Văn Khấu ở xóm Nam Tiến.

Cụ Thượng Thượng tổ họ Phạm huý Phạm Phúc Khánh (ngày giỗ 23 tháng 6 Âm lịch).

Lăng cụ Thượng Thượng tổ ở phía tây xóm Quang Trung, tây bắc mô Ma Quân, cách mô khoảng hơn 100 mét, nhìn về núi Bô ở hướng tây.

Nhà thờ cụ Thượng Thượng tổ ở khu đất nhà ông Giang. Ông Giang hiện là Trưởng họ.

Ghi chú viết tay trên bản gốc: “xây trên đất của Từ đường Phạm tộc.”

Cụ Phạm Phúc Khánh xuất thân từ một gia đình quan lại thuộc triều đại nhà Mạc. Cụ phát tích từ huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Cụ thân sinh ra cụ Phạm Phúc Khánh là quan trong triều nhà Mạc. Đến cụ Phạm Phúc Khánh nối nghiệp cha làm quan đại thần trong triều nhà Mạc.

Nhà Mạc ở ngôi được 66 năm, đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội). Đến năm 1533, nhà Lê Trung hưng lấy lại ngôi nhà Mạc. Từ đó nhà Lê, nhà Mạc, chúa Trịnh Đàng ngoài, chúa Nguyễn Đàng trong xen kẽ nhau. Sau đó nhà Mạc dời đô lên Cao Bằng và đến năm 1677 (Đinh Tỵ) thì mất hẳn. Đời vua cuối cùng lúc đó là Mạc Kinh Vũ.

Thời điểm này cụ Phạm Phúc Khánh lui về nơi thôn dã ẩn và lập nghiệp (tại thôn Nhuộng ta ngày nay). Khi về cụ mang theo 4 người con trai và 2 ông quan phò tá. Hiện nay, mộ hai viên quan táng tại xứ Ma Quân, giáp chân tre phía tây xóm Quang Trung, đã được xây đắp chu đáo.

Về bốn người con trai

Cụ Phạm Phúc Viên sinh ra hai người con trai là cụ Phạm Đình Cam (Cam Tài) và cụ Phạm Phúc Thọ, cụ Phạm Đình Cam làm quan triều Lê, được Vua phong chức “Tiền Phiêu kỵ tướng quân” cầm quân dẹp giặc, một ngày được Vua gia phong 2 đạo sắc (ngày 26 tháng Mười hai năm Nhâm Dần (1722) thuộc triều đại Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái). Hai đạo sắc này ngày nay còn lưu giữ tại nhà thờ Chi 2.

Nhà thờ cụ Phạm Phúc Thọ tại nhà ông Cử, xóm Giữa (Quang Trung).

Kể từ khi cụ Thượng Thượng tổ về trụ tại làng Nhuộng đã trải bao gian lao khổ hạnh, vật lộn với manh áo bát cơm nuôi dưỡng con cháu, duy trì dòng giống tới nay đã trải 12 đời. Một số con cháu lên lập nghiệp quê hương thứ hai ở Phủ Lạng Thương, nay là huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, dân số tới hơn 300 người. Tính đến nay dòng họ Phạm ta đã có bề dày thời gian 325 năm (1677 - 2002).

Nối nghiệp truyền thống cha ông, con cháu của cụ Thượng Thượng tổ ở xã hội nào cũng đều làm đến chức trọng quyền cao. Thời kỳ tiền cách mạng Tháng Tám, con cháu đã có nhiều người tham gia cách mạng.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có hàng trăm con cháu gia nhập quân đội và đã cống hiến thân mình cho Tổ quốc. Liệt sĩ có 24 người. Có một bà mẹ Việt Nam anh hùng (cụ Phạm thị Cung). Có 7 người là lão thành cách mạng. Có hai người được Nhà nước phong cấp tướng (Ông Phạm Sinh và ông Phạm Kha).

Họ phải có hàng. Con cháu trong họ cần phải biết mình ở hàng nào theo tôn ti trật tự trong họ mà ứng xử cho phải đạo. Kèm theo gia phả là sơ đồ tổng hợp các chi theo hàng (Phả đồ).

Tổ xây dựng gia phả họ Phạm được thành lập có đủ đại diện các chi. Thành viên ở hai nơi: Nhuộng - Lạng Giang. Tư liệu dựa trên cơ sở truyền miệng từ đời cụ kỵ, ông cha, từ câu đối, câu thơ, tôn ti trật tự các chi.

Nội dung gia phả họ được cơ bản hoàn thành song cũng chưa phải đã đầy đủ, trọn vẹn 100%, cần có sự bổ sung tiếp của các thành viên trong họ.

Điều mong muốn cốt lõi là mọi thành viên trong họ hãy đoàn kết, khiêm tốn, đặt mình đúng vị trí tôn thống họ hàng. Trên kính, dưới nhường, ra sức học tập, công tác, làm ăn xây dựng cuộc sống gia đình, dòng họ an khang thịnh vượng. Dù đi xa hay ở quê hương, xin mọi thành viên trong họ hãy hướng về nội tộc họ Phạm của làng Nhuộng kính yêu, tạo mọi điều kiện để họ Phạm cùng các dòng họ khác ở làng Nhuộng xứng tên trong mọi thiên niên kỷ.

Mùa Đông Nhâm Ngọ (2002)

Xem ảnh chụp nguyên bản trang 1–2
Nguyên bản trang 1 Gia phả Phạm tộc
Nguyên bản trang 1 — bấm vào ảnh để mở kích thước lớn.
Nguyên bản trang 2 Gia phả Phạm tộc
Nguyên bản trang 2 — bấm vào ảnh để mở kích thước lớn.

Mục 2 · Trang 3–4

Bài thơ “Tha Hương”

Nguyên văn chữ Hán

他鄉。千里他鄉萬理長。朝思畏夕望明陽。弓傷不動何人莫。造化浮悠道理常。

Nguyên văn chữ Hán bài thơ “Tha hương”
của cụ Thượng thượng tổ Phạm Phúc Khánh

Dịch nghĩa

Rời quê hương đi nơi khác, coi như là muôn dặm dài.

Buổi sớm như thế, thì chiều hôm sẽ mong có ánh dương ngày mai.

Không một người nhà Mạc nào phải động đến cung kiếm.

Cái đạo lý của tạo hoá khi nổi khi chìm là thường tình vậy.

Phiên âm

Thiên lý tha hương vạn lý trường.
Chiêu tư mộ tịch vọng minh dương.
Cung thương bất động hà nhân Mạc.
Tạo hoá phù du đạo lý thường.

Rời quê — Dịch thơ

Ra đi muôn dặm đường dài
Sớm chiều nguyện vọng ban mai ánh hồng
Chẳng cần tôi luyện kiếm cung
Đạo trời chìm nổi xoay vòng thái lai.
Xem ảnh chụp nguyên bản bài thơ
Nguyên văn chữ Hán bài thơ Tha Hương
Nguyên văn chữ Hán bài thơ “Tha Hương”.
Phiên âm và dịch bài thơ Tha Hương
Phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ.

Mục 3 · Trang 6

Từ đường hương hoả của Phạm tộc

Đất : 165 m2.

Nhà thờ đầu tiên của họ bị Pháp đốt cháy năm 1930. Toàn bộ gia phả bị cháy và một bát hương thờ cụ Húy Công cao tổ Phạm Phúc Khánh bị nứt.

Sau đó họ tộc tập trung xây lại nhà thờ 03 gian bằng gạch đỏ, gỗ lim, mái lợp bằng ngói nam.

Đến tháng 10/1995 con cháu trong họ xây lại nhà thờ tiến về phía trước giáp cổng đi: nhà 3 gian, gỗ lim, lợp ngói nam (ngói mũi). Trước cửa nhà thờ là đường đi vào nhà anh Giang. Phía nam cổng đi là ao.

Nội thất gồm

Phía bắc: giáp đất anh Cần — 8,9 m
Phía đông: giáp đất anh Giang — 12,8 m
Phía nam: cổng vào nhà anh Giang — 14,4 m
Phía tây: giáp cổng xóm — 15,4 m
Xem ảnh chụp nguyên bản và sơ đồ khu đất
Trang Từ đường hương hoả của Phạm tộc
Nguyên bản trang “Từ đường hương hoả của Phạm tộc”.

Mục 4 · Tư liệu sưu tầm ngoài bản gia phả giấy

Tư liệu tham khảo và đối chiếu

Phần này tập hợp tư liệu do con cháu sưu tầm từ bên ngoài bản gia phả giấy, dùng để tham khảo và tiếp tục đối chiếu.

Cụ tổ Phạm Phúc Khánh trong văn bia khoa Quý Hợi năm 1623

Theo bài sưu tầm về Bia số 31 – Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Quý Hợi, niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 5 (1623), tên Cụ tổ Phạm Phúc Khánh được ghi trong danh sách bảy người đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Cụ tổ Phạm Phúc Khánh (范福慶)
Người xã Man Nhuế, huyện Thanh Lâm.
Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Hợi năm 1623.
Xem thêm nội dung và nguồn sưu tầm

Phần chú thích của bài sưu tầm ghi Cụ sinh năm 1579, người xã Man Nhuế, huyện Thanh Lâm; làm quan đến chức Tự khanh và được phong tước Tử. Một số thông tin trong nguồn này chưa thống nhất với bản gia phả giấy hiện lưu nên vẫn cần tiếp tục đối chiếu.

Nguồn ghi nhận: Bài “82 Văn bia tại Văn Miếu Hà Nội, từ Khoa thi 1442 đến Khoa thi 1779”.

Phần liên quan: Bia số 31 — Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Quý Hợi, niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 5 (1623).

Người đăng: Ninh Quang Thăng, ngày 18/11/2018.

Đại tự “Kim Dung Tại” và câu đối

金庸在 — Kim Dung Tại. Tư liệu ghi tên Phạm Khải Tân — hậu duệ đời 10.

Xem ảnh tư liệu

Vế phải: “Trại Nhượng chiêu tư mộ tịch vọng Minh Vương”.

Vế trái: “Phạm duệ quần hiền tụ tráng định xã tắc”.

Đại tự “Đức Lưu Quang Viễn” và câu đối

遠光流德 — đọc từ phải qua trái là “Đức Lưu Quang Viễn”. Tư liệu ghi tên Phạm Khải Tân — hậu duệ đời 10.

Xem ảnh tư liệu

Vế phải: “Trại Nhượng đa niên phô thống tự”.

Vế trái: “Phạm duệ vạn thế trúc vị lai”.

Chữ “Triêu” (朝) trong bài thơ “Tha Hương”

Tư liệu đối chiếu chữ Hán ghi chữ 朝 ở đầu câu thứ hai và đọc là “Triêu”, nghĩa là buổi sáng.

Xem giải nghĩa

Trong câu “朝思暮夕”, “Triêu” đi với “Mộ” (chiều tối), tạo cặp thời gian sáng – tối. Nội dung này được giữ ở phần tham khảo để thuận tiện đối chiếu với ảnh chụp bản gốc.

Chức “Tự khanh” và tước “Tử”

Tư liệu sưu tầm dùng để giải nghĩa hai danh xưng xuất hiện trong phần ghi chép liên quan đến Cụ tổ.

Xem giải nghĩa

Tự khanh: chức quan đứng đầu một cơ quan “Tự” trong hệ thống quan lại phong kiến.

Tước Tử: một bậc tước trong hệ thống Công – Hầu – Bá – Tử – Nam.

Khái niệm “Tổ tông 18 đời”

Tư liệu sưu tầm giải thích cách gọi các đời tổ tiên và hậu duệ trong quan niệm truyền thống.

Xem danh xưng các đời

Chín đời tổ tiên: Phụ, Tổ phụ, Tằng tổ, Cao tổ, Thiên tổ, Liệt tổ, Thái tổ, Nguyên tổ/Viễn tổ, Thủy tổ/Tị tổ.

Chín đời hậu duệ: Tử, Tôn, Tằng tôn, Huyền tôn, Lai tôn, Côn tôn, Nhưng tôn, Vân tôn, Nhĩ tôn.

Mục này sẽ tiếp tục bổ sung khi có thêm tư liệu sưu tầm phù hợp.

Mục 5 · Gửi thông tin về gia phả

Liên hệ – Nhịp cầu nối liền các thế hệ Phạm tộc

Gia phả không chỉ là những cái tên được nối với nhau qua nhiều đời. Đó là dấu vết của tổ tiên, là ký ức của mỗi gia đình và là sợi dây giúp những người cùng chung nguồn cội nhận ra nhau, dù đang sống tại quê hương, ở mọi miền đất nước hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Theo tư liệu còn lưu lại, gia phả của dòng họ từng bị hỏa hoạn thiêu cháy vào năm 1930. Những nội dung hiện có được các thế hệ đi trước sưu tầm, ghi chép và phục dựng từ ký ức của các bậc cao niên, lời truyền trong từng gia đình cùng những giấy tờ, hình ảnh và tư liệu còn được gìn giữ.

Website này do cá nhân tôi tự thực hiện, bắt đầu từ một mong muốn rất giản dị: giúp ông bà, cô dì, chú bác, anh chị em, các cháu và các thế hệ con cháu của cụ Thượng Thượng tổ Phạm Phúc Khánh hiểu rõ hơn về nguồn cội, biết mình thuộc đời nào, chi nào, nhánh nào và nhận ra những mối quan hệ thân thuộc đã trải qua nhiều thế hệ.

Tôi hiểu rằng một gia phả đã từng bị thất lạc và được phục dựng qua nhiều nguồn tư liệu khó có thể tránh khỏi những chỗ chưa đầy đủ hoặc chưa thật chính xác. Có thể tên một người đã được ghi khác đi; ngày sinh, ngày mất còn thiếu; thứ tự anh chị em chưa đúng; quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cháu còn nhầm lẫn; hoặc vẫn còn những người con, người cháu chưa có tên trong gia phả.

Vì vậy, kính mong các bậc cao niên và con cháu trong dòng họ dành thời gian xem lại thông tin của gia đình mình. Khi nhận thấy có nội dung cần sửa, cần bổ sung hoặc cần làm rõ, xin vui lòng gửi lại những thông tin mà gia đình đang lưu giữ.

Những thông tin cần được bổ sung hoặc đính chính

Khi gửi thông tin, xin ghi rõ họ tên người cung cấp, mối quan hệ với người cần bổ sung hoặc đính chính, gia đình thuộc chi hoặc nhánh nào và nguồn thông tin đang được gia đình lưu giữ. Những nội dung tiếp nhận sẽ được xem xét, đối chiếu cẩn thận trước khi cập nhật, để hạn chế những sai lệch có thể truyền lại cho các thế hệ sau.

Mỗi cái tên được ghi đúng là một người con của dòng họ được trở về đúng vị trí của mình. Mỗi ngày tháng được bổ sung là một phần cuộc đời được lưu giữ. Mỗi mối quan hệ được xác định rõ sẽ giúp những người con, người cháu hôm nay và mai sau hiểu thêm về gia đình, nhận ra họ hàng và biết mình được nối tiếp từ đâu.

Có thể một thông tin đối với chúng ta hôm nay chỉ là một ngày tháng, một bức ảnh cũ hoặc một lời kể của ông bà. Nhưng nhiều năm sau, đó có thể là tư liệu vô cùng quý giá để con cháu tìm về nguồn cội.

Tôi kính mong những người con của Phạm tộc làng Nhuộng, dù đang ở gần hay xa, khi biết được thông tin còn thiếu hoặc chưa chính xác, hãy gửi lại để gia phả từng bước được đầy đủ và rõ ràng hơn.

Gia phả là nơi tổ tiên được ghi nhớ, người đang sống nhận ra nhau và những thế hệ mai sau biết mình thuộc về đâu.

Mọi liên hệ tại đây chỉ nhằm tiếp nhận, bổ sung và đính chính thông tin, hình ảnh và tư liệu gia phả, để lưu giữ được chính xác hơn cho con cháu về sau.

Thông tin liên hệ

Người thực hiện và tiếp nhận thông tin: Phạm Mạnh Thắng

Địa chỉ: 255/103, Quốc lộ 51, Phường Long Hưng, Thành phố Đồng Nai

Email: lienhe@hophamlangnhuong.com

Gửi thông tin gia phả qua email

Khi gửi thư, xin ghi rõ:

  • Họ tên người gửi;
  • Địa chỉ hoặc nơi đang sinh sống nếu thuận tiện;
  • Họ tên người cần bổ sung hoặc đính chính;
  • Quan hệ gia đình;
  • Chi, nhánh hoặc tờ gia đình nếu biết;
  • Nội dung cần sửa;
  • Ảnh hoặc tư liệu đối chiếu nếu có.